
Lượng khai thác dầu thô trong nước thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu, thị trường lại mất cân đối cung - cầu mang tính dài hạn. Ảnh: T.L
Bước vào chu kỳ mở rộng
Ngành dầu khí Việt Nam được đánh giá đang đứng trước ngưỡng cửa phát triển mạnh ở cả ba khâu thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn. Về thượng nguồn, chu kỳ đầu tư mới đã và đang được khởi động với việc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) tăng cường chi tiêu cho các hoạt động thăm dò và khai thác (E&P).
Tính cho cả năm 2025, PVN duy trì đẩy mạnh đầu tư với tổng vốn giải ngân ước đạt hơn 50.000 tỉ đồng, hoàn thành 100% kế hoạch năm. Việc giải ngân thực tế bám sát kế hoạch cho thấy các “nút thắt” về pháp lý và triển khai đã phần nào được tháo gỡ, qua đó tạo nền tảng quan trọng cho chu kỳ tăng trưởng của ngành.
Về triển vọng năm 2026, thị trường giàn khoan được đánh giá tích cực cả ở cấp độ khu vực và nội địa, dựa trên nền tảng nhu cầu duy trì cao trong khi nguồn cung gần như cố định. Nhu cầu giàn khoan tự nâng toàn cầu dự kiến dao động ổn định quanh mức 370-390 giàn trong giai đoạn 2025-2027, với Bắc Mỹ là khu vực đóng góp lớn nhất. Đông Nam Á và Viễn Đông duy trì nhu cầu ổn định khoảng 40-45 giàn.
Theo ước tính, giá cho thuê giàn khoan tự nâng tại Đông Nam Á có thể tăng bình quân khoảng 10%/năm trong 2-3 năm tới. Tại Việt Nam, chu kỳ tăng trưởng giàn khoan mới được xác lập rõ ràng hơn từ năm 2025, với số lượng giếng khoan dự kiến tăng trung bình lên khoảng 93 giếng/năm giai đoạn 2025-2030.
Động lực chính của xu hướng này đến từ việc triển khai các dự án khí - điện lớn như lô B - Ô Môn và định hướng ưu tiên an ninh năng lượng của Chính phủ.
Về trung nguồn, nhu cầu điện khí đã và đang mở ra triển vọng dài hạn cho LNG. Theo Quy hoạch điện VIII đến năm 2030, công suất điện khí ước đạt khoảng 37,3 GW, tương ứng nhu cầu khoảng 18,8 tỉ mét khối khí.
Tỷ trọng khí nội địa phục vụ điện khí dự kiến giảm mạnh từ mức 85% năm 2024 xuống còn 30-40% vào năm 2030, nhường vai trò trụ cột cho LNG. Để hiện thực hóa kịch bản này, Việt Nam cần triển khai đúng tiến độ các chuỗi dự án điện LNG và hạ tầng kho cảng, trong đó LNG Thị Vải 2 và LNG Sơn Mỹ là các dự án then chốt.
Về hạ nguồn, tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ xăng dầu được dự báo sẽ tăng trưởng hai chữ số trong năm 2026, nhờ nền kinh tế mở rộng, hoạt động sản xuất công nghiệp và logistics gia tăng, cùng với sự phục hồi của ngành hàng không và du lịch quốc tế.
Bên cạnh đó, cơ cấu tiêu thụ cũng đang có sự dịch chuyển rõ rệt khi mặt hàng xăng và nhiên liệu bay tăng nhanh hơn so với dầu diesel, phản ánh sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, ô tô cá nhân và nhu cầu di chuyển.
Tuy nhiên, cơ cấu sản phẩm của các nhà máy lọc dầu hiện tại của Việt Nam, đặc biệt là Dung Quất và Nghi Sơn, vẫn thiên về dầu diesel do hạn chế công nghệ, tạo ra độ lệch cung - cầu ngày càng rõ nét và đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cấp, tối ưu hóa sản phẩm trong giai đoạn tới.
Tác động của xung đột tại Trung Đông
Cuộc xung đột tại Trung Đông đang khiến Việt Nam - quốc gia nhập khẩu khoảng 50% nhiên liệu tinh chế và 100% khí LNG - chịu tác động thông qua chi phí nhập khẩu tăng mạnh, giá nhiên liệu trong nước leo thang và nguồn cung năng lượng bị siết chặt.
Thực tế, giá trần xăng và dầu diesel tại Việt Nam đã có thời điểm tăng lần lượt hơn 40% và hơn 50% từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 3-2026, dù Chính phủ đã triển khai các biện pháp khẩn cấp như cắt thuế nhập khẩu, trợ cấp, miễn thuế...
Trên thực tế, Việt Nam hiện là một trong những thị trường tiêu thụ xăng dầu lớn tại Đông Nam Á, với nhu cầu ước tính khoảng 550.000-600.000 thùng/ngày. Tuy nhiên sản lượng khai thác dầu thô trong nước hiện chỉ khoảng 180.000-200.000 thùng/ngày, thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu, và đang có xu hướng suy giảm.
Hơn thế nữa, vấn đề của thị trường xăng dầu Việt Nam còn nằm ở cấu trúc cung - cầu mất cân đối mang tính dài hạn. Ở khâu lọc hóa dầu, hai nhà máy chủ lực là Dung Quất và Nghi Sơn hiện đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng dầu trong nước. Tuy nhiên, mức “tự chủ” này mang tính tương đối, bởi cả hai nhà máy này đều phụ thuộc đáng kể vào nguồn dầu thô nhập khẩu.
Ngoài ra, Việt Nam vẫn phải phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu xăng dầu thành phẩm, đặc biệt là khoảng 45% nhu cầu diesel và 25% nhu cầu xăng. Phần lớn các lô hàng này đến từ các trung tâm năng lượng khu vực như Singapore và Hàn Quốc.
Khi khủng hoảng Trung Đông xảy ra, cấu trúc thị trường như trên tạo ra một dạng “phụ thuộc kép”. Việt Nam không những phụ thuộc vào giá dầu thô toàn cầu, vốn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các biến động địa chính trị, mà còn phụ thuộc vào nguồn cung sản phẩm trong khu vực, từ các trung tâm lọc hóa dầu châu Á - những nơi cũng phụ thuộc vào dầu thô Trung Đông.
Điều này khiến các cú sốc tại các tuyến vận tải chiến lược như eo biển Hormuz có thể lan truyền nhanh chóng đến thị trường trong nước, không chỉ qua kênh giá mà còn qua nguy cơ thiếu hụt nguồn cung vật lý.
Dù vậy, tác động của bất ổn địa chính trị tại khu vực Trung Đông lên các công ty trong ngành cũng có sự phân hóa. Với các công ty ở thượng nguồn, tác động trực tiếp được dự báo ở mức tối thiểu.
Các mỏ dầu ngoài khơi của Việt Nam (Biển Đông) nằm xa khu vực xung đột nên hoạt động khai thác vẫn diễn ra bình thường. PVN đã đạt kết quả kỷ lục ở khâu thượng nguồn trong năm 2025, nhờ giá cao và phát hiện thêm trữ lượng mới.
Xu hướng này có thể còn tiếp tục trong năm 2026, đặc biệt đối với việc khai thác khí khi các dự án khí lớn như lô B - Ô Môn sẽ bắt đầu đóng góp sản lượng trong giai đoạn 2026-2027.
Với các công ty ở hạ nguồn, các nhà máy lọc dầu như Dung Quất và Nghi Sơn có thể sản xuất 15 Mt nhiên liệu/năm (bao gồm các sản phẩm xăng, diesel, kerosene, LPG).
Sau khi chiến sự bùng phát ở Trung Đông, các nhà máy này sẽ ưu tiên thị trường trong nước. Nếu nguồn dầu thô nhập khẩu bị gián đoạn, họ có thể tạm giảm xuất khẩu hoặc điều chỉnh cơ cấu sản phẩm.
Biên lọc dầu toàn cầu (đặc biệt là diesel) đã tăng mạnh do căng thẳng tại Trung Đông, do vậy các nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn có thể sẽ được hưởng lợi về giá trị trên mỗi thùng.
Theo đó, Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (mã BSR, là đơn vị quản lý, vận hành trực tiếp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất) đã đạt lợi nhuận kỷ lục trong quí 4-2025 và xu hướng này có thể sẽ còn tiếp diễn trong năm 2026 này.
Bình luận
0