Luật Du lịch 2017 xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, gắn với phát triển tài nguyên, sản phẩm, hạ tầng và môi trường kinh doanh thuận lợi. Trên nền khung pháp lý đó, bức tranh tăng trưởng của du lịch Việt Nam trong hai năm gần đây cho thấy nhu cầu nới tốc độ thủ tục là có thật.
Năm 2024, Việt Nam đón 17,5 triệu lượt khách quốc tế, trở lại mức trước dịch; sang năm 2025, con số này tăng lên 21,2 triệu lượt, đưa Việt Nam lên vị trí thứ ba ASEAN về khách quốc tế; riêng tháng 3/2026, lượng khách quốc tế ước đạt 2,08 triệu lượt, và tổng ba tháng đầu năm đạt 6,76 triệu lượt. Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cũng nhận định đà phục hồi năm 2025 là kết quả của một chiến lược được tổ chức bài bản, không phải may mắn nhất thời.
Trong một mạch phát triển như vậy, thủ tục hành chính không còn là chi tiết kỹ thuật nằm ở cuối quy trình. Với du lịch, nó nằm ngay ở đầu vào của thị trường. Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Phạm Văn Thủy từng nhấn mạnh rằng Việt Nam đang chuyển từ cách nhìn tăng trưởng bằng số lượng sang tăng trưởng dựa trên giá trị; đồng thời, việc mở rộng miễn thị thực và điều chỉnh chính sách liên quan được kỳ vọng sẽ giảm bớt thủ tục, làm hành trình đến Việt Nam thuận hơn cho khách chi trả cao. Nhận định ấy cho thấy rõ logic của cải cách: du lịch muốn bền thì thủ tục phải đủ gọn để doanh nghiệp phản ứng nhanh với thị trường.
Phụ lục I.12 đi thẳng vào những khâu vốn tốn nhiều thời gian của doanh nghiệp du lịch. Trước hết là nhóm thủ tục về kinh doanh lữ hành. Theo Luật Du lịch 2017, doanh nghiệp lữ hành nội địa phải nộp bộ hồ sơ gồm đơn đề nghị, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, ký quỹ, hợp đồng hoặc quyết định bổ nhiệm người phụ trách và bằng cấp liên quan; doanh nghiệp lữ hành quốc tế có bộ hồ sơ tương tự, trong đó cơ quan giải quyết còn phải kiểm tra và đối chiếu thông tin doanh nghiệp. Nghị quyết mới rút gọn theo hướng tiếp nhận trực tuyến, qua bưu chính hoặc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công; thời hạn thẩm định và cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế còn 5 ngày làm việc. Đáng chú ý hơn, Nghị quyết nêu rõ không thực hiện thủ tục cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, không thực hiện thủ tục cấp đổi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế; đồng thời không thực hiện thủ tục cấp lại và cấp đổi đối với giấy phép lữ hành nội địa.
Nhóm thủ tục thứ hai là công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Luật Du lịch 2017 quy định hồ sơ xếp hạng gồm đơn đề nghị, bản tự đánh giá chất lượng và danh sách nhân sự; thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Phụ lục I.12 thu gọn thời gian còn 15 ngày làm việc, đồng thời cho phép nộp hồ sơ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Với các khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch hay tàu thủy lưu trú du lịch, đây là một thay đổi rất thực chất: vòng quay hồ sơ ngắn hơn đồng nghĩa với việc thương hiệu, tiêu chuẩn dịch vụ và khả năng chào bán sản phẩm ra thị trường được đưa lên sớm hơn.
Nhóm thủ tục thứ ba là thẻ hướng dẫn viên du lịch. Theo Luật Du lịch 2017, hồ sơ cấp thẻ cho hướng dẫn viên quốc tế và nội địa được giải quyết trong 15 ngày; còn thẻ hướng dẫn viên tại điểm được cấp sau khi kiểm tra nghiệp vụ theo kế hoạch hằng năm của địa phương. Nghị quyết 66.16/2026/NQ-CP rút thời hạn cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế và nội địa xuống còn 8 ngày làm việc, đồng thời rút thủ tục cấp đổi thẻ xuống 5 ngày làm việc. Với mảng doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, khu điểm du lịch hoặc đơn vị tổ chức tour, đây là thay đổi đáng chú ý vì nguồn nhân lực hướng dẫn là mắt xích trực tiếp của sản phẩm du lịch.
Nhóm thủ tục thứ tư là thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan du lịch nước ngoài, tổ chức du lịch quốc tế và khu vực. Luật Du lịch 2017 yêu cầu hồ sơ phải hợp pháp hóa lãnh sự và thời gian thẩm định lên tới 30 ngày; Nghị quyết mới rút xuống còn 15 ngày làm việc trước khi trình Thủ tướng xem xét, sau đó Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông báo trong 5 ngày làm việc. Tác động của thay đổi này không chỉ nằm ở khâu hành chính, mà còn ở khả năng tiếp cận thị trường, xúc tiến điểm đến và kết nối đối tác quốc tế nhanh hơn.
Với doanh nghiệp, hiệu ứng của Phụ lục I.12 có thể nhìn thấy khá rõ theo từng phân khúc. Doanh nghiệp lữ hành quốc tế và nội địa bớt được các vòng nộp–sửa–chờ; cơ sở lưu trú rút ngắn thời gian theo đuổi xếp hạng; đơn vị cung cấp hướng dẫn viên giảm độ trễ trong bổ sung nhân sự hành nghề; còn các tổ chức du lịch nước ngoài có thêm một “cửa ngõ” vận hành mềm hơn khi muốn hiện diện tại Việt Nam. Ở tầng vận hành, đó là giảm chi phí cơ hội. Ở tầng thị trường, đó là tăng tốc đưa sản phẩm ra bán. Và ở tầng vĩ mô, đó là cách chính sách đi cùng nhịp với một ngành đang được kỳ vọng tăng trưởng chất lượng, thay vì chỉ chạy theo số lượng.
Bình luận
0