
Dệt may Việt "kẹt" ở khoảng giữa chuỗi giá trị. Ảnh: L. Hoàng
Nhưng sau vài tháng, một nghịch lý xuất hiện khi đơn hàng đã cải thiện, trong khi lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp vẫn đi ngang hoặc suy giảm.
Điều đó cho thấy thuế quan không còn là yếu tố quyết định khả năng sinh lời của ngành dệt may. Sau hơn ba thập niên tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, bài toán lớn hơn đang nằm ở phần giá trị mà doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được trong mỗi đô la xuất khẩu.
Biên lợi nhuận tiếp tục co hẹp
Theo số liệu của Cục Hải quan, xuất khẩu dệt may đạt 11,93 tỉ đô la Mỹ trong bốn tháng đầu năm 2026, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang Mỹ đạt 5,31 tỉ đô la, tăng 3,1%.
Mức tăng này cho thấy việc giảm thuế đã giúp hàng dệt may Việt Nam cải thiện khả năng cạnh tranh tại thị trường lớn nhất của ngành. Tuy nhiên, kết quả vẫn thấp hơn đáng kể so với kỳ vọng khi Mỹ chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam.
Theo ông Song Jae Ho, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công (TCM), nhu cầu tại Mỹ vẫn phục hồi chậm. Các nhà mua hàng tiếp tục chia nhỏ đơn hàng và duy trì lượng tồn kho thấp thay vì đặt những đơn hàng lớn như trước.
Điều đáng chú ý là phần lớn lợi ích trực tiếp từ việc giảm thuế không thuộc về doanh nghiệp sản xuất.
Với phần lớn doanh nghiệp vẫn đứng ở khâu gia công, việc giảm thuế chủ yếu làm giảm chi phí cho nhà nhập khẩu và thương hiệu quốc tế. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhận thêm sản lượng, còn phần giá trị gia tăng lớn hơn vẫn nằm ở các khâu thiết kế, thương hiệu và phân phối.
Nói cách khác, doanh nghiệp Việt Nam có thể nhận thêm việc làm nhưng chưa chắc nhận thêm lợi nhuận. Bức tranh kinh doanh quí 1-2026 phản ánh khá rõ thực tế này.
TCM ghi nhận doanh thu gần 990 tỉ đồng, tương đương cùng kỳ năm trước nhưng lợi nhuận sau thuế giảm 19%, còn 62,5 tỉ đồng. Dù vậy, doanh nghiệp đã nhận gần đủ đơn hàng cho đến gần hết quí 3.
Ở đầu chuỗi cung ứng, Công ty cổ phần Sợi Thế Kỷ (STK) báo lỗ hơn 34 tỉ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi gần 36 tỉ đồng. Theo đại diện doanh nghiệp tại cuộc họp cổ đông gần đây, giá trị đơn hàng chưa giao đã vượt 200 tỉ đồng và giá bán bình quân từ tháng 4 đến nay tăng khoảng 7%. Tuy nhiên, STK vẫn chịu áp lực lớn từ chi phí lãi vay, khấu hao và vận hành sau khi nhà máy Unitex đi vào hoạt động.
Ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thời trang TPHCM (AGTEK), cho biết tình trạng phổ biến hiện nay là có đơn hàng nhưng lợi nhuận rất thấp. Nhiều doanh nghiệp chấp nhận các hợp đồng có biên lợi nhuận mỏng để duy trì công suất và giữ lao động trong lúc thị trường chưa phục hồi hoàn toàn.
Thuế giảm chưa giải quyết được bài toán cạnh tranh
Nếu cách đây hơn một thập niên, lợi thế lớn nhất của dệt may Việt Nam là lao động chi phí thấp, thì hiện nay lợi thế đó đang thu hẹp nhanh chóng.
Bangladesh và Ấn Độ tiếp tục mở rộng thị phần ở phân khúc giá thấp nhờ chi phí lao động thấp hơn. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn duy trì vị thế trung tâm của chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu nhờ hệ sinh thái nguyên phụ liệu hoàn chỉnh, khả năng phát triển sản phẩm nhanh và mức độ tự động hóa cao.
Theo ông Trần Như Tùng, Chủ tịch HĐQT TCM, nếu chỉ cạnh tranh ở các đơn hàng đơn giản sử dụng nhiều lao động, Việt Nam khó cạnh tranh trực tiếp với Bangladesh hay Ấn Độ. Lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam nằm ở các đơn hàng có yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và tốc độ giao hàng cao hơn.
Điều đó cũng lý giải vì sao giảm thuế chưa thể ngay lập tức chuyển thành tăng trưởng lợi nhuận. Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TNHH Việt Thắng Jeans, Phó chủ tịch AGTEK, cho biết nguồn cung nguyên phụ liệu trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu của ngành.
Theo ông, điểm nghẽn không chỉ nằm ở nguyên liệu. Việt Nam vẫn chưa hình thành được một hệ sinh thái thời trang đủ mạnh từ thiết kế, phát triển sản phẩm đến xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Công nhân làm việc tại Dony. Ảnh: TL
Điều đó khiến nhiều doanh nghiệp vẫn chủ yếu tham gia ở khâu sản xuất, trong khi các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, thương hiệu, marketing và phân phối vẫn thuộc về các tập đoàn quốc tế.
Vì vậy, dù kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong nhiều năm, phần giá trị giữ lại trong nước chưa tăng tương ứng.
Lối ra nằm ở chuỗi cung ứng và sản phẩm
Khác với giai đoạn trước, nhiều doanh nghiệp đang chuyển trọng tâm từ mở rộng sản lượng sang nâng vị trí trong chuỗi giá trị.
TCM tiếp tục đầu tư vào mô hình sản xuất tương đối khép kín từ sợi, dệt, nhuộm đến may mặc. Doanh nghiệp đồng thời phát triển các dòng vải chức năng và tối ưu quy trình sản xuất nhằm rút ngắn thời gian giao hàng.
Ở đầu chuỗi cung ứng, STK đẩy mạnh đầu tư sợi tái chế và nguyên liệu xanh nhằm đáp ứng các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững từ các thương hiệu quốc tế.
Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex), Tổng công ty May 10 hay Tổng công ty May Nhà Bè đang gia tăng tỷ trọng đơn hàng FOB, đầu tư tự động hóa và chuyển đổi số nhằm nâng phần giá trị giữ lại thay vì chỉ phụ thuộc vào gia công.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), khoảng 70% nguyên phụ liệu của ngành vẫn phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc. Đây tiếp tục là điểm nghẽn lớn đối với quá trình nâng tỷ lệ nội địa hóa và tận dụng sâu hơn các hiệp định thương mại tự do.
Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS, cho rằng động lực tăng trưởng mới của ngành sẽ đến từ phát triển chuỗi cung ứng trong nước, đầu tư công nghệ, tự động hóa và sản xuất xanh thay vì chỉ dựa vào lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế quan.
Việc Mỹ giảm thuế có thể giúp dệt may Việt Nam bán được nhiều hàng hơn trong ngắn hạn. Nhưng sau hơn ba thập niên tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, câu hỏi quyết định tương lai ngành không còn là xuất khẩu được bao nhiêu tỉ đô la, mà là giữ lại được bao nhiêu giá trị từ những tỉ đô la đó.
Chừng nào doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu đứng ở khâu sản xuất, phần lớn lợi ích từ những cú hích như giảm thuế sẽ tiếp tục chảy về các mắt xích khác trong chuỗi cung ứng toàn cầu thay vì chuyển hóa thành lợi nhuận tương xứng cho doanh nghiệp trong nước.
Bình luận
0