* Giá hồ tiêu ghi nhận tiếp tục khởi sắc khi tăng mạnh 3.000 - 5.000 đồng/kg, đưa mặt bằng giao dịch lên khoảng 138.000 - 141.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng mạnh nhất, tăng 5.000 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 141.000 đồng/kg. Đây cũng là mức cao nhất được ghi nhận trên thị trường cả nước trong ngày.

Ảnh minh họa: baovanhoa.vn
Tại Đắk Lắk, giá hồ tiêu tăng 4.000 đồng/kg, đạt 140.000 đồng/kg.
Cùng mức tăng 4.000 đồng/kg, giá hồ tiêu tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) được nâng lên 139.000 đồng/kg. Tại Đồng Nai, giá cũng tăng mạnh 4.000 đồng/kg, từ mức 134.000 đồng/kg lên 138.000 đồng/kg.
Trong khi đó, tại Gia Lai ghi nhận mức tăng thấp hơn, tăng 3.000 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 138.000 đồng/kg.
Trái ngược với đà tăng mạnh tại thị trường nội địa, giá hồ tiêu thế giới chưa ghi nhận biến động mới. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu đen Indonesia tiếp tục được niêm yết ở mức 7.121 USD/tấn. Hồ tiêu đen Brazil loại ASTA 570 giữ ổn định tại 5.900 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá hồ tiêu đen xuất khẩu tiếp tục dao động 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với hai loại phổ biến 500 g/l và 550 g/l.
* Giá cà phê tại Tây Nguyên tiếp tục giảm mạnh, đưa mặt bằng thu mua phổ biến về khoảng 91.700 - 92.300 đồng/kg.
Cụ thể, tại Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), giá cà phê giảm xuống còn 92.300 đồng/kg, vẫn nằm trong nhóm cao nhất khu vực.
Tại Gia Lai cũng được thu mua ở mức 92.300 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, giá cà phê lùi về 92.200 đồng/kg. Trong khi đó, Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất khu vực Tây Nguyên, với 91.700 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê tiếp tục giảm sâu trên cả hai sàn giao dịch London và New York. Tại sàn London, giá cà phê robusta hợp đồng giao tháng 7-2026 giảm mạnh 7,46%, tương đương 303 USD/tấn, xuống còn 3.761 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 9-2026 giảm 3,38%, tương đương 131 USD/tấn, xuống mức 3.741 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê arabica cũng nối dài đà giảm. Hợp đồng arabica giao tháng 7-2026 giảm 2,22%, tương đương 7,35 US cent/pound, xuống còn 324,25 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 9-2026 giảm 2,46%, tương đương 7,8 US cent/pound, còn 309,8 US cent/pound.
* Giá lúa gạo ghi nhận tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long biến động trái chiều, giao dịch mua bán vẫn chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi Đài Thơm 8 tăng 150 đồng/kg, dao động 6.450 - 6.600 đồng/kg; lúa tươi OM 18 giảm 100 đồng/kg, ở mức 6.300 - 6.500 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 tăng 100 đồng/kg, dao động 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) tăng 100 đồng/kg, ở mức 5.600 - 5.700 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.950 - 9.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 ở mức 9.400 - 9.500 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 ở mức 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo Đài thơm 14.500 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; giá gạo thường 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Bình luận
0