Bệ đỡ tiêu dùng nội địa
Nếu nhìn theo cấu trúc GDP, khu vực dịch vụ đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng quí 1 với tỷ trọng 50,32%, tiếp đến là công nghiệp - xây dựng đóng góp 44,08%, trong khi nông nghiệp chỉ đóng góp khoảng 5,6%. Xu thế này cho thấy khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực dẫn dắt tăng trưởng. Đây là điều tất yếu nếu xét theo yếu tố mùa vụ, khi các hoạt động dịch vụ thường diễn ra mạnh mẽ trong những tháng đầu năm.
Xét theo sử dụng GDP, tăng trưởng GDP quí 1-2026 không dựa vào một động lực đơn lẻ, mà là sự cộng hưởng của cả ba trụ cột chính là tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, với mức tăng trưởng lần lượt là 8,45%; 7,18% và 19,85%. Dù vậy, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ cũng tăng mạnh 24,27% do giá năng lượng tăng vọt và tiền đồng mất giá trong ba tháng đầu năm nay.
Đầu tiên, tiêu dùng nội địa phục hồi mạnh là một trong những điểm sáng rõ ràng nhất. Các ngành dịch vụ tăng trưởng rất cao như bán buôn, bán lẻ tăng 9,62%; vận tải kho bãi tăng 8,95%; tài chính - ngân hàng tăng 7,7% và lưu trú, ăn uống tăng 7,49%. Như đã nói, hiệu ứng mùa vụ với nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh trong dịp Tết giúp kích hoạt toàn bộ chuỗi bán lẻ - dịch vụ, cộng thêm niềm tin người tiêu dùng đang dần quay trở lại sau giai đoạn thắt chặt 2023-2024.
Bên cạnh đó, du lịch quốc tế phục hồi kéo theo chi tiêu dịch vụ, đặc biệt là lưu trú, vận tải và ăn uống. Cụ thể, Việt Nam đã đón 6,76 triệu lượt khách quốc tế trong ba tháng đầu năm nay, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất của quí trong lịch sử ngành du lịch Việt Nam, trong đó tháng 1 thiết lập cột mốc kỷ lục mới với 2,5 triệu lượt khách. Kết quả này giúp doanh thu du lịch lữ hành quí 1 ước đạt 22.900 tỉ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.
Đầu tư tăng tốc nhưng thương mại đảo chiều
Ở hoạt động đầu tư, cả ba khu vực nhà nước, tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng khá đồng đều, lần lượt tăng 11,6%; 9,8% và 11,8%, giúp tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng trưởng tích cực 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ thu hẹp, chính sách tài khóa mở rộng bằng cách thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm, thể hiện qua ngành xây dựng khởi sắc hơn khi tăng 8,36%.

Đáng chú ý, nếu như giai đoạn trước vốn đầu tư từ khu vực tư nhân tăng chậm, đơn cử như quí 1-2023 chỉ tăng 1,3%, quí 1-2024 tăng 4,8%, quí 1-2025 tăng 6,9%, thì ba tháng đầu năm nay tăng 9,8%. Lãi suất tăng trở lại nhưng dường như chưa kịp tác động đến khu vực tư nhân trong quí 1, trong khi niềm tin về mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai chữ số và hiệu ứng lan tỏa từ đầu tư công đã kích thích khu vực doanh nghiệp tư nhân mở rộng đầu tư trong thời gian qua, đặc biệt là tham gia vào các dự án cơ sở hạ tầng của quốc gia.
Trong khi đó, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31-3-2026 (bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) đạt 15,2 tỉ đô la Mỹ, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Lượng vốn FDI giải ngân ước đạt 5,41 tỉ đô la Mỹ, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước - mức cao nhất của ba tháng đầu năm trong năm năm qua. Kết quả này cho thấy còn quá sớm để đánh giá liệu xu hướng vốn FDI vào Việt Nam có bị ảnh hưởng bởi bất ổn địa chính trị hay không.
Ở hoạt động thương mại, kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng nhập khẩu tăng mạnh hơn khiến nền kinh tế đảo chiều từ xuất siêu 3,57 tỉ đô la Mỹ trong quí 1-2025 sang nhập siêu 3,64 tỉ đô la Mỹ trong quí 1-2026. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,73 tỉ đô la Mỹ; khu vực FDI (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,09 tỉ đô la Mỹ. Điều này cho thấy nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nhập khẩu đầu vào, giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế và rất dễ tổn thương trước sự đứt gãy của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Dù vậy, nếu chọn một động lực cốt lõi nhất của tăng trưởng kinh tế trong quí 1-2026, đó chính là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo - khi tăng mạnh 9,73% và đóng góp hơn 32% vào tăng trưởng GDP. Có được kết quả này là nhờ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, dòng vốn FDI tiếp tục đổ vào (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới FDI lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 7,07 tỉ đô la Mỹ, chiếm 69% tổng vốn đăng ký cấp mới) và các đối tác thương mại lớn như Mỹ tăng cường nhập khẩu hàng Việt Nam trước khi các sắc thuế đối ứng cao hơn có thể bị áp đặt.
Thách thức giai đoạn tới
Dù quí 1-2026 khởi đầu tích cực, con đường đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% trong cả năm 2026 vẫn rất nhiều thách thức.
Thứ nhất là các rủi ro, cú sốc từ bên ngoài có thể kìm hãm tăng trưởng của Việt Nam, khi quốc gia này vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Nếu như xung đột Trung Đông kéo giá dầu tăng và kế tiếp là chi phí sản xuất và vận chuyển, thì việc chuỗi cung ứng toàn cầu mất ổn định và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng càng làm trầm trọng thêm tình hình.
Thứ hai là áp lực lạm phát đang quay trở lại, thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng tháng 3-2026 tăng 4,65% so với cùng kỳ và tính chung quí 1 tăng 3,51%, chủ yếu do giá xăng dầu và vật liệu xây dựng tăng mạnh. Nếu lạm phát tiếp tục leo thang, chính sách tiền tệ có thể phải thắt chặt trở lại, kéo chi phí vay vốn đi lên, hệ quả là đầu tư tư nhân có thể bị kìm hãm trở lại sau khi chỉ vừa mới phục hồi.
Không chỉ vậy, cầu tiêu dùng nội địa cũng có thể bị ảnh hưởng trong môi trường lãi suất cao hơn, trong khi bất ổn gia tăng kéo theo tâm lý thắt chặt chi tiêu. Đặt trong bối cảnh thị trường lao động chưa hoàn toàn ổn định, với lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên giảm 232.900 người so với quí trước và thu nhập người dân tăng chậm (tăng 3,8% so với quí trước), không loại trừ khả năng động lực tiêu dùng có thể chững lại trong các quí tới.
Thứ ba, dòng vốn đầu tư công có thể tăng trưởng chậm lại khi các rủi ro gia tăng và giá các nguyên vật liệu đầu vào cũng tăng cao làm vỡ kế hoạch đã đề ra. Dòng vốn ngân sách thường đuối lực vào giai đoạn nửa cuối năm, đây là rủi ro thường thấy trong chu kỳ ngân sách, đặc biệt khi nguồn nhân lực khu vực công cũng đang hạn chế và đang làm quen với các quy trình mới sau các đợt cắt giảm do sáp nhập tỉnh/thành vừa qua.
Bình luận
0