Một trong những nhóm dễ bị bỏ lại nhất trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chính là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nội địa. Do đặc thù của mình, DNNVV gặp nhiều bất lợi rõ rệt so với các doanh nghiệp lớn trong việc tận dụng các cơ hội từ FTA.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa tham gia trực tiếp vào xuất khẩu và hưởng lợi từ các ưu đãi thuế quan của các FTA còn ở mức khiêm tốn. Ảnh: TEKCOM
DNNVV nội địa có tận dụng được ưu đãi thuế quan từ FTA thế hệ mới?
Hiện nay, chưa có thống kê chính thức công bố tỷ lệ DNNVV tận dụng được ưu đãi thuế quan từ các FTA. Chúng ta có thể ước lượng tỷ lệ này một cách gián tiếp thông qua tỷ lệ khai thác ưu đãi thuế FTA chung của cả nước và tỷ lệ DNNVV tham gia trực tiếp vào xuất khẩu.
Để xác định được khả năng tận dụng các ưu đãi thuế quan từ FTA, thông thường chúng ta có thể căn cứ vào tỷ lệ giá trị hàng hóa xuất khẩu đã nộp chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ (C/O) để hưởng ưu đãi thuế quan của FTA tương ứng.

Hình minh họa
Các số liệu thống kê chính thức cho thấy, một số FTA thế hệ mới như RCEP, CPTPP có tỷ lệ tận dụng C/O khá thấp. Sau sáu năm có hiệu lực, chỉ có 8,8% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường các nước CPTPP tận dụng được ưu đãi thuế quan do hiệp định này mang lại. Với RCEP, năm 2024 chỉ có 1,83% tổng giá trị hàng xuất khẩu sang thị trường này áp dụng ưu đãi thuế quan.
Tỷ lệ tận dụng thuế quan ưu đãi của CPTPP thậm chí còn thấp hơn ở một số thị trường xuất khẩu lớn như Nhật Bản, chỉ ở mức 3%. Ở một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, tỷ lệ tận dụng được ưu đãi thuế quan của CPTPP và EVFTA vẫn còn thấp.
Các thị trường nhập khẩu gạo lớn như EU, Vương quốc Anh có mức thuế ưu đãi 0% từ các FTA mới ký kết, nhưng thị phần của gạo Việt Nam mới chỉ loanh quanh ở mức 1%, kém xa so với tiềm năng xuất khẩu(1).
Về tỷ lệ DNNVV tham gia trực tiếp vào xuất khẩu, tình hình cũng không mấy khả quan.
Theo điều tra chọn mẫu của Ngân hàng Thế giới năm 2023, tỷ lệ doanh nghiệp quy mô nhỏ (5-19 lao động) và vừa (20-99 lao động) tham gia xuất khẩu trực tiếp với giá trị xuất khẩu lớn hơn 10% tổng doanh thu, chỉ đạt 0,8% với doanh nghiệp nhỏ và 8,3% với doanh nghiệp vừa.
Khi so sánh với các nước ASEAN, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ tham gia vào xuất khẩu của Việt Nam là thấp nhất. Nếu so sánh với trung bình của các nước có mức thu nhập trung bình cao(2), tỷ lệ DNNVV tham gia vào xuất khẩu của Việt Nam cũng thấp hơn đáng kể.
Các con số này phản ánh một thực trạng rằng, DNNVV nội địa tham gia trực tiếp vào xuất khẩu và hưởng lợi từ các ưu đãi thuế quan của các FTA còn ở mức khiêm tốn.
Lợi ích không bù đắp nổi chi phí
Lợi ích đến từ các cơ hội xuất khẩu vào các thị trường FTA rộng lớn là không cần bàn cãi. Nhưng tại sao DNNVV không tận dụng được hiệu quả?
Trước hết, so với doanh nghiệp lớn, DNNVV gặp nhiều bất lợi hơn để có thể tận dụng các cơ hội mang lại từ xuất khẩu. Tham gia vào thương mại quốc tế cũng đồng nghĩa với việc tham gia cạnh tranh toàn cầu và đối diện với những rủi ro pháp lý hay đứt gãy chuỗi cung ứng. Những rủi ro này nghiêm trọng hơn đối với DNNVV do thiếu kiến thức về thị trường quốc tế, hạn chế nguồn lực tài chính, nhân sự và năng lực quản trị rủi ro.
Thứ hai, DNNVV nội địa cũng phải đối diện với chi phí cố định lớn để tham gia xuất khẩu và tận dụng các ưu đãi thuế quan.

Hình minh họa
Nếu như doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể trực tiếp thành lập bộ phận chuyên trách để thực hiện các công việc logistics, xúc tiến xuất khẩu thì DNNVV thường phải thuê ngoài dịch vụ logistics cho xuất khẩu.
Chi phí logistics tại Việt Nam tương đối cao so với khu vực. Các nghiên cứu gần đây cho thấy chi phí logistics của Việt Nam có thể lên tới 21% GDP - cao hơn hầu hết các quốc gia tương đương trong ASEAN(3). Điều này ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là DNNVV.
Trong bối cảnh địa chính trị biến động như hiện nay, chi phí logistics, bảo hiểm còn có xu hướng diễn biến phức tạp hơn trong thời gian tới.
Để nhận được ưu đãi thuế quan từ các FTA, doanh nghiệp cần có giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ chủ yếu cấp bởi các cơ quan thẩm quyền. Việc các hệ thống xử lý thủ tục hành chính điện tử liên tục phát sinh trục trặc, hoạt động không ổn định nhiều lần trong năm 2025 cũng là một trong những nguyên nhân làm đội chi phí tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp xuất khẩu.
Làm gì để DNNVV có thể tham gia cuộc chơi?
Có thể thấy DNNVV chưa tận dụng tốt các cơ hội, ưu đãi thuế quan từ các FTA thế hệ mới vì cả các nguyên nhân chủ quan từ nội bộ doanh nghiệp lẫn các yếu tố chi phí khách quan. Do đó, các giải pháp khắc phục cần được thực hiện từ cả phía doanh nghiệp lẫn Nhà nước.
Về phía doanh nghiệp, trước tiên cần nuôi dưỡng tham vọng dám nghĩ, dám làm, dám xuất khẩu. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định doanh nghiệp nào mà lãnh đạo có ý chí quyết tâm và năng lực thì doanh nghiệp đó có nhiều khả năng xuất khẩu và tăng trưởng tốt.
Thứ hai, cho dù có nhiều bất lợi nhưng DNNVV cũng có nhiều lợi thế riêng mà doanh nghiệp lớn không có được, ví dụ như khả năng linh hoạt, tinh thần đổi mới sáng tạo và thích ứng nhanh.
DNNVV cần tận dụng các lợi thế này để xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ độc đáo, chất lượng cao, chi phí rẻ và đáp ứng tốt nhu cầu của các thị trường quốc tế. Trong dài hạn, chỉ có năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ mới giúp doanh nghiệp đứng vững và thành công trên thị trường.
Thứ ba, để khắc phục các bất lợi về mặt chi phí đến từ xuất khẩu trực tiếp, DNNVV có thể chủ động tham gia mạng lưới cung ứng của các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nước ngoài để xuất khẩu gián tiếp, qua đó tích lũy học hỏi kinh nghiệm tiến tới xuất khẩu trực tiếp.
Về phía Nhà nước, các chính sách hỗ trợ DNNVV nên đặt trọng tâm vào việc hỗ trợ DNNVV xuất khẩu và tận dụng các ưu đãi thuế quan từ FTA một cách hiệu quả hơn.
Để thực hiện điều này, có lẽ trước tiên cần cải tổ hệ thống cung cấp dịch vụ công với việc lấy doanh nghiệp làm trung tâm. KPI của hệ thống dịch vụ công gắn liền với hiệu quả hoạt động định lượng mức độ hài lòng của doanh nghiệp.
Các cổng điện tử cung cấp thông tin, dịch vụ công cho doanh nghiệp xuất khẩu cần được tích hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động tương xứng với nhu cầu xuất nhập khẩu trên thực tế để tạo thuận lợi và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc hỗ trợ sự phát triển của các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng cũng đặc biệt hữu ích và cần thiết. Thực tế cho thấy, các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng nào càng hoạt động hiệu quả thì càng tạo ra nhiều cơ hội, liên kết và hỗ trợ cho DNNVV tham gia vào xuất khẩu.
(1) https://thesaigontimes.vn/vi-sao-fta-mo-cua-mien-thue-nhung-gao-viet-van-chon-noi-thue-cao
(2) Tính đến hết 2025, Việt Nam đã chính thức gia nhập các nước có mức thu nhập trung bình cao.
(3) Lam, Y. Y. K. N. (2019). Strengthening Vietnam’s trucking sector : towards lower logistics costs and greenhouse gas emissions (English). World Bank. https://documents.worldbank.org/en/publication/documents-reports/documentdetail/165301554201962827
Bình luận
0