Trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020, một đề xuất đáng chú ý đang được đưa ra là áp thuế môi trường trực tiếp với các loại bao bì khó tái chế hoặc gần như không có giá trị tái chế thương mại. Đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật trong quản lý rác thải, mà phản ánh sự dịch chuyển trong tư duy điều tiết, từ “khuyến khích trách nhiệm” sang dùng công cụ kinh tế để thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng.
Về lý thuyết, đây là hướng đi phù hợp với xu thế quốc tế. Những loại bao bì rẻ, tiện dụng như nhựa mềm, bao bì đa lớp hay màng ghép phức hợp thường cũng là những loại gây áp lực môi trường lớn nhất. Doanh nghiệp được hưởng lợi từ chi phí vật liệu thấp, còn xã hội phải trả chi phí xử lý rác, ô nhiễm và suy giảm chất lượng môi trường.
Các địa phương phải chi ngân sách cho thu gom và chôn lấp rác. Quỹ đất cho bãi rác ngày càng thu hẹp trong khi lượng rác nhựa tiếp tục tăng. Người dân lại đối mặt với ô nhiễm không khí, nước và vi nhựa.
Đó cũng là lý do cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường 2020. Theo cơ chế này, doanh nghiệp phải tự tái chế hoặc đóng góp tài chính cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ xử lý chất thải.

EPR là chưa đủ với bao bì khó tái chế. Ảnh: TL
Theo Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam(1), năm 2025 có 286 doanh nghiệp đóng góp hỗ trợ tái chế với tổng số tiền 434 tỉ đồng, cùng 66 doanh nghiệp đóng góp hơn 223 tỉ đồng cho xử lý chất thải.
Tuy nhiên, sau vài năm triển khai, EPR đang bộc lộ giới hạn. Nhiều loại bao bì hiện gần như không có giá trị tái chế thương mại. Chi phí thu gom và xử lý cao hơn giá trị vật liệu thu hồi khiến thị trường tái chế khó vận hành theo cơ chế thị trường, phải phụ thuộc vào hỗ trợ tài chính.
Nói cách khác, EPR chủ yếu xử lý “phần ngọn”, tức rác sau khi phát sinh, thay vì tác động trực tiếp đến thiết kế sản phẩm từ đầu vào. Đề xuất đánh thuế bao bì khó tái chế vì thế được xem là bước dịch chuyển tiếp theo. Nếu bao bì càng khó tái chế thì thuế càng cao, doanh nghiệp sẽ có động lực đổi vật liệu, tăng hàm lượng nhựa tái chế hoặc thay đổi cấu trúc bao bì để giảm chi phí thuế.
Mục tiêu cuối cùng của thuế môi trường không phải tăng thu ngân sách, mà là thay đổi hành vi thị trường.
Nhưng khoảng cách từ lý thuyết đến thực tế vẫn còn khá xa. Rào cản đầu tiên là xác định thế nào là “bao bì khó tái chế”. Một loại vật liệu hiện chưa tái chế hiệu quả có thể trở nên khả thi chỉ sau vài năm nếu công nghệ thay đổi. Nếu đánh thuế quá rộng hoặc quá sớm, chính sách có thể vô tình cản trở đổi mới công nghệ và làm méo mó thị trường vật liệu.
Thứ hai là nguy cơ “thuế chồng thuế”. Hiện doanh nghiệp đã phải gánh nhiều chi phí liên quan tới môi trường như EPR, phí thu gom rác, đầu tư chuyển đổi xanh, kiểm kê phát thải carbon hay tiêu chuẩn bao bì xuất khẩu.
Áp lực lớn nhất sẽ dồn vào các ngành hàng tiêu dùng nhanh, thực phẩm, đồ uống và bán lẻ, những lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào bao bì nhựa mềm để kéo dài thời hạn sử dụng sản phẩm.
Quan trọng hơn, doanh nghiệp chưa chắc là người chịu thuế cuối cùng. Phần lớn chi phí nhiều khả năng sẽ được chuyển vào giá bán hàng hóa và người tiêu dùng sẽ là bên gánh chịu.
Điều này đặc biệt nhạy cảm trong bối cảnh sức mua nội địa còn yếu. Nếu giá thực phẩm, sữa, đồ uống hay hàng tiêu dùng thiết yếu tăng lên do áp lực thuế môi trường, phản ứng xã hội là điều có thể dự báo trước. Lúc đó, thuế môi trường dễ biến thành “thuế chi phí”, thay vì động lực đổi mới.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy thuế chỉ hiệu quả khi đi cùng cả một hệ sinh thái hỗ trợ. Liên minh châu Âu từ năm 2021 áp dụng mức đóng góp khoảng 0,8 euro/kg nhựa không tái chế. Vương quốc Anh đánh thuế với bao bì có dưới 30% nhựa tái chế. Hàn Quốc phân loại phí EPR theo độ dễ tái chế của vật liệu.
Thế nhưng, các quốc gia này không chỉ đánh thuế. Đi cùng là hệ thống phân loại rác tại nguồn, công nghệ tái chế hiện đại, tiêu chuẩn vật liệu rõ ràng, tín dụng xanh và thị trường tiêu thụ vật liệu tái chế.
Trong khi đó, điểm yếu lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở thiếu chính sách, mà ở hạ tầng thực thi. Mỗi năm Việt Nam phát sinh gần 3 triệu tấn chất thải nhựa(2), nhưng hệ thống phân loại rác tại nguồn còn yếu, công nghệ tái chế chủ yếu quy mô nhỏ, giá trị thấp và thị trường nguyên liệu tái chế chưa phát triển đầy đủ.
Nếu áp thuế quá nhanh, áp lực chi phí có thể tăng nhanh hơn năng lực chuyển đổi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải trả thêm tiền nhưng lượng rác nhựa thực tế chưa chắc giảm đáng kể.
Dù có đánh thuế hay không, doanh nghiệp Việt rồi cũng phải thay đổi. EU và nhiều thị trường xuất khẩu đang siết rất nhanh các tiêu chuẩn về bao bì, phát thải và vòng đời sản phẩm. Vấn đề là chuyển đổi theo cách nào để vừa giảm áp lực môi trường, vừa không tạo thêm cú sốc chi phí cho nền kinh tế.
Bình luận
0